headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 21/11/2017 - Ngày 4 Tháng 10 Năm Đinh Dậu - PL 2561 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtriductang Mong
 Video - Sám hối 6 căn

TẮC 90: TRÍ MÔN BÁT-NHÃ THỂ

LỜI DẪN: Một câu trước tiếng ngàn Thánh chẳng truyền, một sợi tơ trước mặt hằng không gián cách. Lột trần bày lồ lộ, đầu tóc rối rũ, tai vảnh ngược. Hãy nói tại sao ? Thử cử xem ?

CÔNG ÁN: Tăng hỏi Trí Môn: Thế nào là Bát-nhã thể ? Trí Môn đáp: Con trai ngậm trăng sáng. Tăng hỏi: Thế nào là Bát-nhã dụng ? Trí Môn đáp: Con thỏ mang thai.

GIẢI THÍCH: Trí Môn đáp: “con trai ngậm trăng sáng, con thỏ mang thai”, trọn dùng ý Trung thu. Tuy nhiên như thế, cổ nhân ý chẳng ở trên con trai, con thỏ. Sư là hàng tôn túc trong tông Vân Môn, một câu nói phải đủ ba câu: Hàm cái càn khôn, Tiệt đoạn chúng lưu, Tùy ba trục lãng, cũng chẳng cần an bài, tự nhiên vừa vặn, liền đến chỗ hiểm. Đáp lời cho vị Tăng này lược bày đôi phần mũi nhọn, hẳn là kỳ đặc. Tuy nhiên thế ấy, cổ nhân trọn chẳng chạy đùa quang ảnh, chỉ vì ông chỉ đầu đường khiến ông thấy. Vị Tăng hỏi: Thế nào là Bát-nhã thể ? Trí Môn đáp: Con trai ngậm trăng sáng. Sông Hán sản xuất con trai, trong con  trai có hạt châu sáng, đến Trung thu mặt trăng hiện, con trai nổi trên mặt nước hả miệng ra ngậm ánh sáng mặt trăng, cảm mà sanh ra châu, tức là Châu Hiệp Phố. Nếu Trung thu trăng sáng thì châu nhiều, trăng tối thì châu ít. Tăng hỏi: Thế nào là Bát-nhã dụng ? Trí Môn đáp: Con thỏ mang thai. Ý này cũng không khác, con thỏ thuộc âm, Trung thu mặt trăng mọc, nó hả miệng nuốt ánh sáng mặt trăng liền thọ thai, trong miệng sanh ra con, cũng trăng sáng thì sanh nhiều, trăng tối thì sanh ít. Chỗ đáp của cổ nhân không có nhiều việc, chỉ mượn ý kia để đáp ánh sáng của Bát-nhã. Tuy nhiên thế ấy, ý chẳng phải ở trên ngôn cú, tự là người sau chạy trên ngôn cú tìm kế sống. Bàn Sơn nói: “Tâm nguyệt riêng tròn, sáng trùm muôn tượng, sáng không chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều quên, lại là vật gì ?” Người nay chỉ trừng mắt gọi là sáng, đi trên tình giải, trong không mà đóng đinh. Cổ nhân nói: Cả thảy các ông ở cửa sáu căn ngày đêm phóng đại quang minh, chiếu phá núi sông đại địa. Không những chỉ nhãn căn phóng quang, tỷ thiệt thân ý đều phóng quang. Đến trong đây phải nhồi đập sáu căn không còn một việc, lột trần bày lồ lộ, mới thấy được chỗ rơi của câu này. Tuyết Đậu chính thế ấy tụng ra:

TỤNG:      Nhất phiến hư ngưng tuyệt vị tình

                Nhân thiên tùng thử kiến Không Sanh

                Bạng hàm huyền thố thâm thâm ý

                Tằng dữ thiền gia tác chiến tranh.

DỊCH:      Một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn

                Người trời từ đó thấy Không Sanh

                Trai ngậm thỏ huyền thâm ý tuyệt

                Từng cùng thiền giả khởi chiến tranh.

GIẢI TỤNG: Câu “một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn”, một câu này Tuyết Đậu tụng rất hay, tự nhiên thấy được ý cổ nhân. Sáu căn lặng lẽ ấy là gì ? Chỉ một mảnh hư minh ngưng tịch chẳng cần chạy trên trời tìm chẳng thiết đến người khác mà cầu, tự nhiên thường quang hiện tiền, chỗ ấy vách đứng ngàn nhẫn. Hai chữ “Vị tình” ở Hán văn tức là tuyệt ngôn ngữ tình trần. Bài tụng tánh Viên Thành Thật của Pháp Nhãn nói: “Lý cực vong tình vị, như hà đắc dụ tề, đáo đầu sương dạ nguyệt, nhậm vận lạc tiền khê, quả thục kiêm viên trọng, sơn diêu tự lộ mê, cử đầu tàn chiếu tại, nguyên thị trụ cư tê (tây).” (Lý tột quên bàn nghĩ, làm sao có dụ bằng, rốt cùng trăng đêm sương, hồn nhiên rơi khe trước, trái chín vượn cùng quí, núi xa dường quên đường, ngưỡng đầu ánh sáng nhạt, vốn là ở phương Tây.) Vì thế nói: “Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ ví như vết trên gương, nhơ nhớp hết rồi sáng mới hiện, tâm pháp đều quên tánh liền chân.” Lại nói: “Ba gian nhà cỏ từ xưa ở, một vạch thần quang muôn cảnh nhàn, chớ đem phải quấy đến ta biện, sống tạm bàn quanh chẳng dính gì.” Chỉ một bài tụng này cũng thấy “một mảnh lặng thênh bặt nghĩ bàn”. Câu “người trời từ đó thấy Không Sanh”, ngài Tu-bồ-đề ngồi yên lặng trong núi, chư Thiên mưa hoa tán thán. Tôn giả hỏi: Trong không mưa hoa tán thán đó là ai ? Chư Thiên đáp: Tôi là Phạm Thiên. Tôn giả hỏi: Tại sao ông tán thán ? Chư Thiên đáp: Tôi trọng Tôn giả khéo nói Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Tôn giả bảo: Tôi đối với Bát-nhã chưa từng nói một chữ, ông vì sao lại tán thán ? Chư Thiên đáp: Tôn giả không nói, tôi cũng không nghe, không nói không nghe là chân Bát-nhã. Lại rải hoa khắp nơi. Xem ngài Tu-bồ-đề khéo nói Bát-nhã, mà chẳng nói thể dụng. Nếu nơi đây thấy được, có thể thấy Trí Môn nói: “Trai ngậm trăng sáng, thỏ mang thai.” Cổ nhân ý tuy chẳng ở trên ngôn cú, mà chỗ đáp vẫn có ý thâm sâu, gợi cho Tuyết Đậu nói: “Trai ngậm thỏ huyền thâm ý tuyệt.” Đến trong đây “từng cùng thiền giả khởi chiến tranh”. Những kẻ học thiền thiển cận thương lượng lăng xăng, mà chưa có một người mộng thấy. Nếu muốn cùng Trí Môn, Tuyết Đậu đồng tham, phải chính mình để mắt mới được.

[ Quay lại ]